Tóm tắt:

Nghiên cứu này đề xuất khung tiêu chí nhằm định hướng cho các mục tiêu hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế tập thể. Kết quả nghiên cứu sơ bộ cho thấy, Việt Nam đã tính đến các tiêu chí như: tính minh bạch, công bằng, sự hợp tác và tham gia của các bên liên quan, sự quan tâm đến nhu cầu công cộng và phúc lợi toàn diện của cộng đồng, nhưng sự kém hiệu quả của các quy trình hành chính là một trong những điểm nghẽn cản trở khả năng đạt được các mục tiêu chính sách phát triển khu vực kinh tế tập thể ở Việt Nam. Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế tập thể, Việt Nam cần vừa đặt mục tiêu quản lý nhà nước gắn với các tiêu chí được đề xuất, vừa phải chú trọng nâng cao hiệu quả quy trình hành chính của các cơ quan công quyền liên quan tới quản lý nhà nước về kinh tế tập thể.

 

Từ khóa: kinh tế tập thể, quản lý nhà nước, kinh tế, khu vực kinh tế, chính sách.

1. Đặt vấn đề

Kinh tế tập thể là những cơ sở kinh tế do các thành viên tự nguyện góp vốn, tài sản, tư liệu sản xuất hoặc/và góp sức; cùng sản xuất, kinh doanh; cùng quản lý theo nguyên tắc dân chủ, bình đẳng; phân phối theo vốn góp, lao động hoặc theo mức độ tham gia dịch vụ; thành viên kinh tế tập thể khi tự nguyện chấm dứt tư cách thành viên thì được tổ chức kinh tế tập thể trả lại phần vốn, tài sản, tư liệu lao động đã đóng góp.

Ở Việt Nam, phát triển kinh tế tập thể đã được quan tâm từ những ngày đầu thành lập đất nước và tiếp tục được coi trọng sau Đổi mới năm 1986. Tuy nhiên, Nghị quyết số 20 – NQ/TW ngày 16/6/2022 đã nhận định “khu vực kinh tế tập thể của nước ta đến nay chưa phát triển như mục tiêu, yêu cầu Nghị quyết số 13 năm 2002 đề ra”. Những hạn chế và yếu kém bộc lộ cả về số lượng, quy mô và chất lượng của các cơ sở kinh tế tập thể. Nguyên nhân của những hạn chế một phần được cho là do “công tác quản lý nhà nước về kinh tế tập thể thiếu thống nhất, một số nơi buông lỏng hoặc can thiệp quá sâu; thanh tra, kiểm tra việc thực thi pháp luật về kinh tế tập thể chưa thường xuyên”.

Với nhận định trên, việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế tập thể là một trong những nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 đưa ra để nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực này.

Tuy nhiên, đến nay, các nghiên cứu đề xuất khung tiêu chí để định hướng vấn đề hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế tập thể vẫn còn bỏ ngỏ. Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước chủ yếu tập trung vào lý luận và thực tiễn phát triển khu vực kinh tế tập thể, cũng như lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể và hợp tác xã.

Nghiên cứu này đề xuất một khung tiêu chí để đánh giá thực trạng hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế tập thể ở Việt Nam. Phần 2 giới thiệu sự tiến hóa của các lý thuyết và đề xuất các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế tập thể. Phần 3 tập trung đánh giá thực trạng hiệu quả quản lý nhà nước dựa trên các tiêu chí đề xuất ở phần 2. Cuối cùng, một số hàm ý để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế tập thể sẽ được đề xuất.

2. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế tập thể

2.1. Sự tiến hóa của các lý thuyết về hiệu quả của quản lý nhà nước

Hiểu một cách chung nhất, quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi.

Theo Manzoor (2014), sự tiến hóa của các lý thuyết quản lý công phản ánh bối cảnh thay đổi của hành chính công, quản trị và kỳ vọng xã hội. Mỗi làn sóng lý thuyết đều được định hình bởi bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội hiện hành, ảnh hưởng đến cách các tổ chức công được khái niệm hóa và quản lý.

Bảng. Sự tiến hóa của các lý thuyết của quản lý nhà nước qua các thời kỳ

STT Lý thuyết Thời điểm Luận điểm chính
1 Lý thuyết quản trị cổ điển Đầu thế kỷ 20 Phân cấp, hiệu quả và chuyên môn hóa là yếu tố quyết định hiệu quả của quản lý công
2 Các lý thuyết dựa trên cách tiếp cận hành vi 1930 – 1950 Hành vi của con người trong các tổ chức, động lực, văn hóa tổ chức, và sự hài lòng của nhân viên là quan trọng và quyết định hiệu quả quản lý công.
3 Lý thuyết lựa chọn công cộng 1960 – 1970 Việc ra quyết định công cần dựa trên các lợi ích kinh tế. Các cá nhân, bao gồm cả các quan chức nhà nước, hành động vì lợi ích cá nhân của họ.
4 Lý thuyết quản lý công mới 1980 – 1990 Khu vực công cần được cải cách theo định hướng thị trường, nhấn mạnh tính hiệu quả, quản lý dựa trên kết quả và phân cấp.
5 Lý thuyết quản lý hợp tác Những năm 2000 – nay Cần có mạng lưới quản trị, để nhấn mạnh sự hợp tác giữa các bên liên quan khác nhau để giải quyết các vấn đề
6 Lý thuyết giá trị công Những năm 2000 – nay Nhiệm vụ của các tổ chức công là tạo ra giá trị xã hội, không hẳn là chỉ thực hiện các biện pháp hiệu quả. Tính hợp pháp, công bằng, và nhu cầu công cộng cần được coi trọng.
7 Quản trị kỹ thuật số và Chính phủ điện tử Thập niên 2000 – nay Sự chuyển đổi các quy trình hành chính thông qua công nghệ có thể nâng cao chất lượng và hiệu quả của quản lý công.

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

Có thể thấy, các lý thuyết về quản lý công tiến hóa từ việc coi trọng hiệu quả công việc, coi trọng các yếu tố mang tính thị trường, hướng tới quản trị nội bộ của tổ chức công (phân cấp, chuyên môn hóa, động lực cá nhân, văn hóa tổ chức, quản lý dựa trên kết quả và hiệu quả) sang các yếu tố mang tính giá trị xã hội, hướng tới sự tham gia của người dân và doanh nghiệp trong quá trình hoạt động và thực thi chính sách, hướng tới tính hợp pháp, tính minh bạch, công bằng, nhu cầu công cộng, trách nhiệm xã hội và phúc lợi toàn diện của cộng đồng.

2.2. Đề xuất khung xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất áp dụng các lý thuyết đương đại về quản lý nhà nước khi xem xét hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể. Theo đó, vấn đề chất lượng và hiệu quả của quản lý nhà nước về kinh tế tập thể không chỉ là hiệu quả xử lý thủ tục hành chính, thủ tục pháp lý, triển khai chính sách đối với khu vực kinh tế tập thể, mà quan trọng hơn là sự hợp tác và tham gia của các bên liên quan, mức độ tác động đến toàn xã hội, tính hợp pháp và minh bạch, tính công bằng, sự quan tâm đến nhu cầu công cộng và phúc lợi toàn diện của cộng đồng.

Với lập luận như vậy, nghiên cứu đề xuất khung tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế tập thể như sau:

– Nhóm 1: Các tiêu chí về tính hợp pháp, minh bạch, công bằng, hiệu quả xử lý thủ tục hành chính, thủ tục pháp lý, triển khai chính sách đối với khu vực kinh tế tập thể.

– Nhóm 2: Tính minh bạch, công bằng trong hệ thống chính sách và pháp luật liên quan đến khu vực kinh tế tập thể;

– Nhóm 3: Sự hợp tác và tham gia của các bên liên quan trong xây dựng, thực thi chính sách, triển khai các quy trình hành chính. Các bên liên quan ở đây gồm các thành phần của khu vực kinh tế tập thể (hợp tác xã, tổ hợp tác, liên hiệp hợp tác xã, các xã viên), các cơ quan công quyền liên quan, cũng như các đối tác của khu vực kinh tế tập thể;

– Nhóm 4: Sự quan tâm đến nhu cầu công cộng và phúc lợi toàn diện của cộng đồng trong các văn bản chính sách và pháp luật liên quan đến kinh tế tập thể, cũng như quá trình thực thi các văn bản này;

– Nhóm 5: Mức độ tác động đến khu vực kinh tế tập thể của các biện pháp quản lý nhà nước đối với khu vực này.

3. Thực trạng hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển kinh tế tập thể ở Việt Nam

Nghiên cứu này đánh giá sơ bộ hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển kinh tế tập thể ở Việt Nam qua nghiên cứu tài liệu, các văn bản chính sách và pháp lý, và kết quả phỏng vấn sâu một số cán bộ chính quyền có tham gia vào công tác quản lý nhà nước về kinh tế tập thể.

Về nhóm tiêu chí thứ nhất, tính hiệu quả trong xử lý các thủ tục hành chính, thủ tục pháp lý, triển khai chính sách đối với khu vực kinh tế tập thể: Trước thời điểm Việt Nam thực hiện tinh giản bộ máy hành chính, việc quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tập thể được phân công về các sở, ngành riêng. Trong đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư quản lý việc đăng ký thành lập hợp tác xã, các nội dung liên quan tới mã vùng trồng, mã sản phẩm của hợp tác xã do Sở Nông nghiệp quản lý, các nội dung liên quan tới các vấn đề chuyên ngành khác lại do các sở, ngành khác đảm nhận. Việc chuyển đổi số trong quản lý nhà nước của các hợp tác xã phần nào hỗ trợ đơn giản hóa quy trình. Tuy nhiên, do các đầu mối phân tán, nên thời gian xử lý các thủ tục hành chính liên quan đến hợp tác xã vẫn còn mất nhiều thời gian.

Về nhóm tiêu chí thứ hai, tính minh bạch, công bằng trong hệ thống chính sách và pháp luật liên quan đến khu vực kinh tế tập thể: Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản có tính chất khuyến khích, tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tập thể, đặc biệt là mô hình hợp tác xã kiểu mới. Các chính sách đã ban hành đều thể hiện nỗ lực hướng tới tính minh bạch và công bằng phục vụ sự phát triển khu vực kinh tế tập thể.

Về các văn bản thể hiện quan điểm, chủ trương, chính sách: Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/3/2002; Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022; Nghị quyết số 134/NQ-CP năm 2020 của Bộ Chính trị; Quyết định số 340/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Kết luận số 70-KL/TW ngày 9/3/2020 của Bộ Chính trị.

Về các văn bản pháp lý: Luật Hợp tác xã (1996, 2003, 2012, 2023); Nghị định số 113/2024/NĐ-CP; Nghị định số 107/2017/NĐ-CP; Thông tư Liên tịch số 09/2017/TTLT-BKHĐT-BTC; Thông tư số 01/2020/TT-BKHĐT của Bộ Tài chính; Thông tư số 07/2019/TT-BKHĐT của Bộ Tài chính; Thông tư số 83/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Về các đề án, nghị quyết: Quyết định số 340/QĐ-TTg năm 2013; Quyết định số 1804/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 2261/QĐ-TTg năm 2014; Nghị quyết số 20 – NQ/TW năm 2022; Chỉ thị số 19/CT-TTg năm 2019; Quyết định số 340/QĐ-TTg ngày 12/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 3/2/2021 của Thủ tướng Chính phủ.

Như vậy, các chính sách của Việt Nam đã hình thành quan điểm nhất quán, xác định kinh tế tập thể là thành phần kinh tế không thể thiếu trong tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế cả nước. Các vấn đề được đề cập gồm:

(1) Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bản chất, vị trí, vai trò và tầm quan trọng của kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;

(2) Phát triển nguồn lực cho khu vực kinh tế tập thể, như: nhân lực, đất đai, tài chính, tín dụng, khoa học – công nghệ, thông tin kinh tế, kỹ năng tiếp thị và nghiên cứu thị trường, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, bảo hiểm xã hội;

(3) Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh tế tập thể, gồm: giải quyết dứt điểm các vấn đề tồn đọng của kinh tế tập thể như nợ tồn đọng kéo dài trong hợp tác xã, các quan hệ về tài sản của hợp tác xã; sắp xếp lại các hợp tác xã hoạt động không hiệu quả; xử lý dứt điểm các hợp tác xã ngừng hoạt động, chờ giải thể và các hợp tác xã chưa chuyển đổi; cơ cấu lại các hợp tác xã tín dụng;

(4) Khuyến khích tăng nguồn vốn cho các hợp tác xã;

(5) Cho phép thành lập doanh nghiệp tại những tổ chức kinh tế tập thể có đủ điều kiện; ủy thác một số dịch vụ công cho các tổ chức kinh tế tập thể; khuyến khích liên kết kinh tế giữa tổ chức kinh tế tập thể với các tổ chức thuộc thành phần kinh tế khác;

(6) Liên kết kinh tế nhà nước với kinh tế tập thể, cho phép doanh nghiệp nhà nước ưu tiên hỗ trợ liên kết, tiêu thụ, sử dụng sản phẩm, dịch vụ, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế tập thể hoạt động có hiệu quả;

(8) Huy động sự tham gia và phát huy vai trò của các đơn vị như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đối với phát triển kinh tế tập thể.

Về nhóm tiêu chí thứ ba, sự hợp tác và tham gia của các bên liên quan trong xây dựng, thực thi chính sách, triển khai các quy trình hành chính; và về nhóm tiêu chí thứ tư, sự quan tâm đến nhu cầu công cộng và phúc lợi toàn diện của cộng đồng. Như vậy, việc xây dựng, thực thi, triển khai chính sách và công tác quản lý nhà nước về kinh tế tập thể ở Việt Nam có sự tham gia sâu rộng của các bên liên quan, đặc biệt là trong quy trình triển khai chính sách. Chẳng hạn, theo khảo sát của nhóm nghiên cứu ở Quảng Ninh, có thể thấy tính lan truyền chính sách thông qua hệ thống các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp đã được thực hiện rộng rãi. Theo lãnh đạo Hội nông dân tỉnh Quảng Ninh, Hội đã triển khai thực hiện các chủ trương chính sách đến từng hộ gia đình ở các địa phương trong tỉnh. Mạng lưới các chi hội ở cấp thôn, bản đã đến tuyên truyền, giới thiệu tới từng hộ nông dân về những lợi ích và cách thức vận hành của mô hình kinh tế tập thể, đồng thời nắm bắt nhu cầu, những khó khăn, vướng mắc mà các hợp tác xã gặp phải, để đề xuất tìm hướng giải quyết cho các xã. Cũng theo lãnh đạo Hội, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về hợp tác xã không đơn giản là đào tạo, tập huấn, chia sẻ kiến thức, mà phần nhiều phải cầm tay chỉ việc, “đào tạo những người nông dân giỏi để họ đào tạo lại cho những người nông dân yếu hơn”, “đưa các hộ nông dân đi thực tế để chứng kiến sự thành công của các hợp tác xã và các hộ nông dân đã tham gia hợp tác xã”. Lãnh đạo địa phương cũng có những nhận thức rất rõ ràng rằng, “vai trò của khoán ruộng đất đã được phát huy trong một giai đoạn tất yếu của lịch sử, đến nay, khi nhu cầu hợp tác liên kết là cần thiết để tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô, thì việc hình thành các hợp tác xã là tất yếu”.

Về nhóm tiêu chí thứ năm: Mức độ tác động đến khu vực kinh tế tập thể của các biện pháp quản lý nhà nước đối với khu vực này. Như đã phân tích ở trên, mặc dù được Đảng và Nhà nước quan tâm phát triển từ rất lâu, Nghị quyết số 20 – NQ/TW ngày 16/6/2022 đã nhận định khu vực kinh tế tập thể ở Việt Nam được phát triển còn yếu “cả về số lượng, quy mô và chất lượng của các cơ sở kinh tế tập thể”. Điều này cho thấy các biện pháp quản lý nhà nước về tổng thể chưa thực sự phát huy hiệu quả, làm thay đổi căn bản về chất và lượng đối với khu vực này. Mặc dù vậy, sự tham gia của các bên liên quan cũng đã có những đóng góp nhất định cho sự phát triển của các tổ chức kinh tế tập thể. Chẳng hạn, theo kết quả phỏng vấn tại tỉnh Phú Thọ (địa phận của tỉnh Hòa Bình cũ), Liên minh Hợp tác xã tỉnh Phú Thọ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thực thi các chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể. Liên minh Hợp tác xã là nơi tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cho các hợp tác xã, đặc biệt là trong hoạt động thương mại điện tử, góp phần giải quyết đầu ra cho các hợp tác xã. Nhiều sản phẩm của các hợp tác xã đã tham gia trên các sàn thương mại điện tử, được nhiều người biết đến, bước đầu giải quyết tốt bài toán đầu ra cho nông sản hoặc sản phẩm của các hộ kinh doanh nhỏ lẻ. Bên cạnh đó, nhờ có sự giới thiệu của Liên minh, nhiều sàn thương mại điện tử đã trực tiếp tìm đến các hợp tác xã để đặt mua sản phẩm và mời hợp tác xã tham gia sàn thương mại điện tử. Điều này góp phần giải quyết vấn đề quản lý chất lượng, đầu ra, giúp phát huy tính hiệu quả kinh tế theo quy mô mà các hợp tác xã mang lại.

4. Kết luận và hàm ý chính sách

Kết quả phân tích cho thấy quy trình hành chính – mặc dù đã có những cải thiện đáng kể nhờ chuyển đổi số – vẫn là một cản trở đáng kể đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tập thể. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và các văn bản pháp luật liên quan đến khu vực kinh tế tập thể. Quá trình xây dựng, thực thi chính sách đã có sự tham gia và hợp tác đáng kể của các bên liên quan. Nhu cầu công cộng và phúc lợi cộng đồng trong các văn bản chính sách liên quan đến kinh tế tập thể cũng đã được đề cập. Tuy nhiên, khu vực này vẫn chưa phát triển đáng kể về chất và lượng. Thực trạng này có thể một phần do ảnh hưởng của quy trình hành chính liên quan đến triển khai các chính sách, khiến các chính sách về vốn, nhân lực, cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, hợp tác và mở rộng thị trường đều gặp khó khăn và khó phát huy tác dụng. Các lý thuyết đương đại về quản lý nhà nước đã nhấn mạnh vai trò của các yếu tố mang tính giá trị xã hội, hướng tới sự tham gia của người dân và doanh nghiệp trong quá trình hoạt động và thực thi chính sách, hướng tới tính hợp pháp, tính minh bạch, công bằng, nhu cầu công cộng, trách nhiệm xã hội và phúc lợi toàn diện của cộng đồng. Tuy nhiên, những nghiên cứu bước đầu về hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế tập thể ở Việt Nam vẫn nhấn mạnh hiệu quả quy trình hành chính và tổ chức thực thi chính sách là một trong những nhân tố quan trọng quyết định khả năng đạt được các tiêu chí khác của quản lý nhà nước về khu vực kinh tế tập thể. Quy trình hành chính là mạch máu xuyên suốt quá trình xây dựng và triển khai thực hiện chính sách. Nếu quy trình này không hiệu quả sẽ cản trở mọi khả năng đạt được các mục tiêu chính sách, dù các mục tiêu này có phù hợp với thực tế hay không. Điều đó hàm ý rằng, các hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế tập thể của Việt Nam nên đặt mục tiêu phù hợp với các lý thuyết đương đại về quản lý nhà nước như tính hợp pháp, minh bạch, công bằng, nhu cầu công cộng, trách nhiệm xã hội, phúc lợi cộng đồng toàn diện, nhưng cần có quy trình thực thi, đặc biệt là các quy trình hành chính hiệu quả để đạt được các mục tiêu chính sách đã đề ra.

 

Tài liệu tham khảo:

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012). Nghị định số 193/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã năm 2012.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013). Quyết định số 340/QĐ-TTg năm 2013 phê duyệt Chương trình Hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2013-2020.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014). Quyết định số 2261/QĐ-TTg năm 2014 phê duyệt Chương trình Hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015-2020.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015). Chỉ thị số 19/CT-TTg năm 2019 về việc tăng cường triển khai thực hiện hiệu quả Luật Hợp tác xã.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2017). Nghị định số 107/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã năm 2012.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2021). Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 3/2/2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án Lựa chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới hiệu quả tại các địa phương trên cả nước giai đoạn 2021 – 2025.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2021). Quyết định số 340/QĐ-TTg ngày 12/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021 – 2030.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2021). Quyết định số 340/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã 2021 – 2030;

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2021). Quyết định số 1804/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021 – 2025.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2020). Nghị quyết số 134/NQ-CP về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận 70-KL/TW ngày 9/3/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2024). Nghị định số 113/2024/NĐ-CP ngày 12/9/2024 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hợp tác xã năm 2023.

Bộ Tài chính (2015). Thông tư số 83/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với hợp tác xã.

Bộ Tài chính (2017). Thông tư liên tịch số 09/2017/TTLT-BKHĐT-BTC hướng dẫn về việc hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã.

Bộ Tài chính (2019). Thông tư số 07/2019/TT-BKHĐT về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT ngày 26 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về đăng ký hợp tác xã và chế độ báo cáo tình hình hoạt động của hợp tác xã.

Bộ Tài chính (2020). Thông tư số 01/2020/TT-BKHĐT hướng dẫn phân loại và đánh giá hợp tác xã.

Bộ Chính trị (2020). Kết luận số 70-KL/TW ngày 9/3/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể.

Ban chấp hành Trung ương (2002). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/3/2002 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể.

Ban chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới.

Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1996). Luật Hợp tác xã (1996, 2003, 2012, 2023).

Azhar Manzoor (2014), A look at efficiency in Public Administration: Past and Future, sgo.sagepub.com, DOI: 10.1177/2158244014564936.

 

Solutions for enhancing the effectiveness of state management in Vietnam’s collective economy

Bui Thi Hoang Mai1

Phan Le Nga1

 Nguyen Thi Tram1

1Academy of Policy and Development

Abstract:

This study proposes a criteria-based framework to guide the goals of effective state management in the collective economy. Preliminary findings from Vietnam indicate that while important criteria, such as transparency, fairness, stakeholder cooperation and participation, responsiveness to public needs, and comprehensive community welfare, are taken into account, inefficiencies in administrative processes remain a major bottleneck hindering policy implementation. To enhance the effectiveness of state management in this sector, Vietnam should not only align management goals with the proposed criteria but also prioritize improving the efficiency of administrative procedures related to collective economic governance.

Keywords: collective economy, state management, economy, economic sector, policy.

[Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 22/2025]